Phân tích khả năng thanh toán gốc vay nợ dài hạn:

43

Phân tích khả năng thanh toán gốc vay nợ dài hạn:

Vay nợ dài hạn là một thành phần quan trọng trong các nguồn huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của DN nên khả năng thanh toán gốc vay nợ dài hạn gắn liền với cơ cấu nguồn vốn của DN.

Các chỉ tiêu thường được sử dụng để phân tích khả năng thanh toán gốc vay nợ dài hạn gắn liền với việc phân tích cấu trúc tài chính của DN.

Các chỉ tiêu hệ số nợ , hệ số tài trợ hay hệ số nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu đều thể hiện mức độ rủi ro tài chính mà các chủ nợ phải gánh chịu. nếu hệ số nợ và hệ số nợ phải trả vốn chủ sở hữu cao(hệ số tài trợ thấp), thể hiện mức độ rủi ro tài chính lớn, vì vậy khả năng thanh toán gốc nợ vay dài hạn sẽ kém. Bên cạnh việc thể hiện mức độ rủi ro tài chính , các chỉ tiêu này còn thể hiện khả năng bảo vệc cho các chủ nợ  trong trường hợp DN mất khả năng thanh toán(bị phá sản).

Giả sử ngân hàng X cho hai DN A và B vay vốn. Doanh nghiệp A có hệ số nợ là 0.7 và DN B có hệ số nợ  0.8. trong trường hợp cả hai DN A và B đều bị phá sản, khả năng ngân hàng X đòi lại được toán bộ số nợ từ DN A sẽ cao hơn so với DN B .

Chỉ tiêu hệ số nợ phải trả/ tài sản bảo đảm công thức (3) phản ánh sát thực và thận trọng hơn khả năng bảo vệ cho các chủ nợ trong trường hợp DN mất khả năng thanh toán. Trong thực tế , không phải tất cả các tài sản của DN đều có thể được sử dụng để thanh toán nợ khi  DN phá sản. Khi đang hoạt động các tài sản vô hình rất có giá trị đối với DN, nhưng khi phá sản hầu hết các tài sản vô hình đều trở nên vô nghĩa., như phần mềm kế toán, thương hiệu, lợ thế thương mại… ngoại trừ quyền sử dụng đất.

Chính vì vậy khi DN phá sản các tài sản được sử dụng để trang trải công nợ là tài sản hữu hình ( tiền, hàng tồn kho, phải thu khách hàng, tài sản cố định hữu hình,…) và quyền sử dụng đất của DN. Các tài sản này được gọi là tài sản bảo đảm(cho các chủ nợ). nếu hệ số nợ /tài sản bảo đảm càng cao thì khả năng bảo vệ cho các chủ nợ khi DN phá sản càng kém và ngược lại.

Chỉ tiêu hệ số thanh toán của tài sản dài hạn đối với nợ dài hạn CT(3) , có ý nghĩa tương tự, thể hiện khả năng bù đắp cho các chủ nợ dài hạn của DN. Chỉ tiêu này càng cao , thể hiện các khoản nợ dài hạn càng được bảo đảm an toán.Để thận trọng hơn trong việc đánh giá khả năng bù đắp cho các chủ nợ tài sản dài hạn, chúng ta có thể loại bỏ các tài sản vô hình sẽ không còn giá trị khi DN phá sản giống nhưu chỉ tiêu Hệ số nợ/ tài sản bảo đảm.

Lưu ý rằng ,các chỉ tiêu này có thể không phản ánh đúng khả năng bù đắp cho các chủ nợ trong trường hợp DN phá sản do cơ sở số liệu của các chỉ tiêu này là bảng cân đối kế toán với hạng mục tài sản được phản ánh theo giá gốc, mà không phải là giá thị thường; trong khi giá thị trường mới là cơ sở hợp lí để đánh giá khả năng bù đắp cho các chủ nợ khi DN phá sản.

 

Nguồn:TS.Phạm Thị Thủy và ThS.Nguyễn Thị Lan Anh. (Quantri.vn Biên tập và hệ thống hóa)